Sunday, February 2, 2014

CON NGƯỜI GƯƠNG MẪU

Con Người Gương Mẫu Năm trăm năm trước Chúa Giê-Su ra đời, Khổng Tử dạy triết lý của ông mà ngày nay chúng ta được biết dưới tên là ”Khổng giáo.” Khổng tử muốn đào tạo ra những người lãnh đạo gương mẫu, gọi là “người quân tử,” “con của vua,” một mẫu người lãnh đạo lý tưởng. Người quân tử là: • Người giữ tam cương—ba mối liên hệ: vua--tôi, chồng--vợ, và cha--con--được tốt đẹp. • Người thực thi năm giá trị luân lý—nhân, nghĩa, lễ, trí và tín. Trước hết chúng ta xem qua ba mối liên hệ. TAM CƯƠNG Tam cương là ba mối liên hệ quan trọng của người quân tử. I. LIÊN HỆ VUA TÔI Người quân tử phải trung thành và phục tùng nhà vua, người có thẩm quyền tuyệt đối trên người dân của mình. Nếu nhà vua ra lệnh cho đầy tớ mình phải chết, tôi tớ của ông phải sẵn sàng chấp nhận án tử hình. Bất kỳ khiếu nại nào chống lại lệnh của nhà vua bị coi là bất trung. Tuy nhiên, Khổng Tử cũng mong muốn nhà vua phải công chính, không chuyên chế; nhà vua cũng phải là người quân tử. Nguyên nhân của những cuộc nổi dậy là vì nhà vua thiếu chính trực. II. LIÊN HỆ CHA CON Nhiệm vụ của một người con trai là hết lòng phục vụ cha mình, dù khi còn sống hay sau khi chết. Con trai phải chăm sóc cha mình. Sau khi cha qua đời, người con trai dựng bàn thờ để thờ cha. Mối quan hệ đó được gọi là " lòng hiếu thảo”. Nhiều quốc gia châu Á vẫn đang giữ truyền thống đó. Nhưng, như chúng ta biết, đó chỉ là hình thức bề ngoài. Một người con trai đầu lòng được ca ngợi khi người xây một cái mộ tuyệt đẹp cho cha mẹ, và cúng kiến vào những ngày kỷ niệm, dù người không tôn kính cha mẹ khi họ còn sống. III. LIÊN HỆ CHỒNG VỢ Khổng giáo nhấn mạnh sự liên hệ của người vợ đối với chồng nhiều hơn là chồng đối với vợ. Một người vợ,theo Nho giáo, có ba nghĩa vụ: đầu tiên, một phụ nữ độc thân phải phục tùng cha mình; thứ hai, nếu đã kết hôn, cô phải phục tùng chồng; và thứ ba, sau khi chồng qua đời thì lệ thuộc con trai của mình. Nếu người chồng thực thi được năm giá trị luân lý—nhân, nghĩa, lễ, trí và tín—thì là một người chồng không chổ chê trách được. HAI MỐI LIÊN HỆ NỒNG CỐT CỦA CƠ ĐỐC NHÂN Theo lời Chúa Giê-Su dạy, người Cơ đốc chỉ có hai mối liên hệ chính: liên hệ với Đức Chúa Trời và liên hệ với người lân cận. I. LIÊN HỆ VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI “Đức Chúa Giê-xu đáp: “Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết tâm trí mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi.” Ma-thi-ơ 22:37 Lúc ban đầu Đức Chúa Trời tạo ra loài người, Chúa và loài thọ tạo có mối liên hệ rất tốt. Ngài gặp họ mỗi ngày (Sáng thế 3:8). Nhưng, loài người không tin cậy Đức Chúa Trời và không nghe lời Ngài truyền, do đó mối liên hệ giữa Đấng Tạo Hóa và loài thọ tạo bị đứt đoạn. Đấng Tạo Hóa mong muốn hàn gắn lại mối liên hệ ấy. Ngài muốn loài người yêu mến Ngài hết lòng. Nhưng con người tìm mọi cách để tái lập mối liên hệ với Đức Chúa Trời, nhưng không đáp ứng yêu cầu của Ngài. Kinh thánh cho biết chỉ có một con đường để tiếp cận Chúa, đó là qua Chúa Giê-Su. Yêu mến Đức Chúa Trời với hết cả tấm lòng nghĩa là vâng phục. Chúa muốn chúng ta vâng lời Ngài vì lợi ích của chúng ta, trong khi nhà vua chỉ muốn thần dân phục tùng vì lợi ích riêng của vua. Người Việt Nam có câu: “Con cãi cha mẹ, trăm đàng con hư.” Cãi lời Đức Chúa Trời thì cũng không được tốt lành. Chúa Giê-Su dạy, “Nếu ai yêu mến Ta, thì sẽ vâng giữ lời Ta, Cha Ta sẽ yêu thương người, Chúng Ta sẽ đến cùng người, và ở với người” (Giăng 14:23). Khi người tin Chúa Giê-Su vâng giữ lời dạy của Ngài thì sẽ được Đức Chúa Cha thương yêu, ban phước và chăm sóc. Một người không trung thành với vua thì sẽ không được xem là người quân tử. Đức Chúa Trời muốn những ai tin cậy Ngài, trung thành với Ngài, nhưng Ngài cũng cho chúng ta quyền lựa chọn: trung thành hay không trung thành. Ai trung thành sẽ hưởng phước hạnh trong đời này và “mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời” (Ê-phê-sô 1:3--Bản dịch Truyền thống). II. LIÊN HỆ VỚI NGƯỜI LÂN CẬN “…và yêu thương người lân cận như chính mình.” Lu-ca 10:27 Đức Chúa Trời tạo ra loài người để chung sống với nhau và giúp đở lẫn nhau. Vì tội lỗi, loài người không tôn trọng lẫn nhau, nhưng tranh chiến với nhau, tạo bất hòa và bất ổn. Để có thể thương yêu người lân cận như mình, trước hết mối liên hệ với Đức Chúa Trời cần phải được tái lập. Một khi được hòa thuận với Chúa thì loài người mới có thể hòa thuận lẫn nhau. Nhiều người không hiểu tại sao nước này nghịch cùng nước kia, người này lại ghét người nọ, nhưng họ biết, nếu các dân, các nước hợp tác với nhau thì sự sống sẽ vui thỏa là dường nào. Bất cứ ai có thể gìn giữ hai mối liên hệ nói trên tốt đẹp là đáp ứng yêu cầu của Đức Chúa Trời. Hai mối liên hệ này là nền tảng của những mối liên hệ khác. NĂM PHẨM HẠNH CỦA NGƯỜI QUÂN TỬ Để đủ tư cách của người quân tử, một người phải thực thi năm phẩm hạnh sau đây. • Nhân: Là lòng từ thiện. Khổng Tử nói: Khi ở nhà giữ gìn dung mạo khiêm cung; khi ra làm việc thi hành một cách kính cẩn; khi giao thiệp với người, giữ lòng trung thành. Dẫu đi tới các đoàn rợ phương đông và phương bắc, cũng chẳng bỏ ba đức hạnh cung, kính và trung ấy, như vậy là người có đức nhân • Nghĩa: Là việc nên làm hay là cách xử sự phải đường hoàng, hào hiệp. Hành vi của con người phải tuân theo tính chính đáng, chú trọng quy tắc, tiêu chuẩn, trọng tâm là nghĩa vụ và trách nhiệm. Trước khi làm gì phải xem xét hành vi đó có hướng đến điều “thiện” hay không, có thể hiện tiêu chuẩn đạo nghĩa, ý thức trách nhiệm với cộng đồng hay không. • Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người, mở rộng ra là việc tuân thủ các quy tắc, nguyên tắc đạo đức xã hội và pháp luật. Một cách căn bản, chính nghi lễ và nghi thức làm cho cuộc sống quân bình. Lễ làm bền vững nền văn hiến của một nước, lễ mà bại hoại thì văn hiến cũng tiêu tan. Khổng Tử nói: "Cung kính mà thiếu lễ thì làm thân mình lao nhọc. Cẩn thận mà thiếu lễ thì trở thành nhút nhát. Dũng cảm mà thiếu lễ sẽ trở thành rối loạn. Ngay thẳng mà thiếu lễ sẽ trở nên thô lỗ”. • Trí: Óc khôn ngoan, sáng suốt. Cảm giác đúng và sai. Biết tiên liệu, tính toán để hành động hợp đạo lý. • Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy. Chữ tín vốn nằm trong 4 điều trên, sau này được tách ra để thành Ngũ thường. Tín là thước đo, là sự phản ánh 4 giá trị trên. Đạt được những phẩm hạnh cũng không dễ hơn giữ những Điều răn của Môi-se. Khổng Tử muốn đào tạo người quân tử để trở thành một nhà lãnh đạo không chổ chê trách được, để trị quốc và lo cho dân. Tu thân nghĩa là rèn luyện tinh thần để đạt được năm phẩm hạnh của người quân tử. Tu thân là điều kiện tiên quyết để tề gia; phải tề gia trước rồi mới có thể trở thành lãnh đạo--trị quốc. Ngày nay, chúng ta không tìm ra được nhiều nhà lãnh đạo quan tâm đến tu thân, tề gia và năm phẩm tính nói trên. CHÍN MỸ ĐỨC CỦA CƠ ĐỐC NHÂN “Nhưng trái của Thánh Linh là: Yêu thương, vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, khiêm nhu, tiết độ.” (Ga-la-ti 5:22) Trong khi người quân tử phải thực thi năm phẩm tính, Cơ đốc nhân nhận được từ Đức Thánh Linh chin mỹ đức. Đây không phải là một vấn đề gắng công ra sức, nhưng là một sự lựa chọn đầu phục Chúa, người chủ thiêng thượng. Phao Lô, trong thư Ga-la-ti, nói, “Tôi đã cùng bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Cơ Đốc, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Cơ Đốc sống trong tôi…” (2:20) Với sức người, không ai có khả năng thực thi chin mỹ đức nói trên. Chỉ khi nào Chúa Cứu Thế thật sự cai trị linh hồn một Cơ đốc nhân thì người ấy mới có đạt được chin mỹ đức ấy. Chúng ta có thể ví công việc này với một người tài xế giao tay lái cho Chúa điều khiển, và người ấy ngồi ngắm cảnh thiên nhiên tuyệt vời, và được đưa đến điểm đến an toàn. 1. TÌNH YÊU THƯƠNG Kinh Thánh cho biết Đức Chúa Trời là tình yêu thương, và con người được tạo dựng theo hình và tượng Ngài. Cho nên, con người có nhu cầu yêu và được yêu thương. Chúa Giê-su dạy, “Không có tình yêu thương nào lớn hơn tình yêu thương vì bạn hữu mà hi sinh mạng sống mình” (Giăng 15:13). Rất hiếm có ai vì lòng nhân có thể hi sinh mạng sống mình vì bạn hữu. Đức Chúa Trời vì yêu thương nhân gian phải hi sinh Con một của Ngài, để chỉ nhờ Con ấy loài người mới có thể làm hòa lại với Ngài, mới có thể tái lập mối liên hệ bị tội lỗi cắt đứt. Một người có mối liên hệ tôt với Chúa mới có tình thương yêu. Con mang trong máu ADN của cha. Người có Chúa có tình yêu của Ngài. Sứ đồ Giăng trong thư Giăng 1, nói, “Nếu có ai nói: ‘‘Tôi yêu thương Đức Chúa Trời,” mà lại ghét anh em mình, thì người ấy là kẻ nói dối. Vì người nào không yêu thương anh em mình thấy, thì không thể yêu thương Đức Chúa Trời mình không thấy được. 1 Giăng 4:20 Người dân tộc Karen ở Myanmar theo Cơ đốc giáo rất đông. Họ bị bắt bớ, hoạn nạn. Gần đây, khi Philippines bị siêu bảo tàn phá, người Karen trong một trại tị nạn quyên góp được 212 đô la để gởi giúp người Philippines, kèm theo một lá thư. Người đại diện viết, “Khi chúng tôi gặp khó khăn, họ giúp chúng tôi. Cả thế giới đổ vào để giúp. Chúng tôi không cho từ sự dư dật, nhưng từ lòng dâng hiến cho Đức Chúa Trời, vì Ngài đã gìn giữ chúng tôi trong mùa khô hạn trong trại tị nạn. Chúng tôi muốn gởi một món quà mọn, từ tấm lòng đến anh chị em người Philippines.” Đó thực là lòng nhân. 2. VUI MỪNG Trong bức thư gởi H ội th ánh Phi-líp, Phao-Lô khuyến khích họ vui mừng trong khi, đáng lý họ phải khuyến khích ông vui mừng vì ông đang bị ở tù tại La-Mã. Sự vui mừng là ý tưởng chủ yếu của thư tín Phi-líp. Vui mừng và cảm xúc liên hệ xuất hiện 19 lần trong tín thư này. Vui mừng là một trong chín bông trái của Đức Thánh Linh, nó không lệ thuộc vào hoàn cảnh bên ngoài, nhưng là một kết quả của người tín đồ thiêng liêng. Một người chỉ nhận được loại vui mừng này qua mối liên hệ mật thiết với Chúa Cứu Thế. Trong Ngài chúng ta có sự vui mừng. Ngài ban linh lực để chúng ta có thể vui mừng trong nghịch cảnh như trường hợp của Phao-Lô. Ở trong tù ông vẫn có thể khuyên người được tự do, “Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn; tôi xin nhắc lại: Hãy vui mừng lên” (Phi-líp 4:4). Sứ đồ Phi-e-rơ khuyên người tin Chúa không nên để cho hoạn nạn, thử thách làm nản lòng vì chúng chỉ tạm thời. Nhưng chúng ta cần nên vui mừng vì đức tin sẽ lớn lên khi bị thử thách. Ông cũng bảo chúng ta vui mừng hầu dự phần vào khổ nạn của Chúa Giê-Su, để chúng ta quá vui khi sự vinh hiển Ngài được phơi bày ra (1 Phi-e-rơ 4:13). Sứ đồ Gia-cơ đồng tình với Phao-Lô và Phi-e-rơ khi ông dạy, “Thưa anh chị em, khi gặp những thử thách khác nhau, anh chị em hãy xem tất cả là điều vui mừng, vì biết rằng đức tin anh chị em có bị thử nghiệm mới sinh ra kiên nhẫn, kiên nhẫn có hoàn tất công việc thì anh chị em mới trưởng thành, toàn vẹn, không thiếu sót gì” (Gia-cơ 1:2-4). Nếu những sứ đồ không nắm bắt những lẽ thật này, họ cảm thấy nản lòng, và mất hết nghị lực khi họ không tin rằng Chúa của họ vẫn ở bên cạnh và sẵn sàng nâng đở họ lên. Muốn vui hưởng đời sống dư dật theo ý muốn của Chúa, tín đồ cần giữ mối liên hệ thân thiết với Cứu Chúa. Nhiều người phải tuận đạo. Không phải ai cũng phải tuận đạo, nhưng tín đồ phải tập vui mừng trong nghịch cảnh vì con đường Chúa đi không phải lúc nào cũng bằng phẳng, nhưng đầy chông gai, như Ngài đã báo trước cho chúng ta, “Trong thế gian, các con sẽ gặp hoạn nạn; nhưng hãy an tâm! Ta đã thắng thế gian rồi” (Giăng 16:33). Ngài đã thắng thế gian rồi, đó có phải là điều đáng cho chúng ta vui mừng không? 3. BÌNH AN Bình an dịch từ Hi văn eirene có hai cách dùng: a. “Chỉ sự an cư lạc nghiệp dưới một chế độ công bằng, bác ái của một vị minh quân. “ b. “Chỉ một trật tự tốt tại thành phố hay trong làng mạc. Hi văn eirene tương đương với tiếng Hi bá lai shalom không chỉ có nghĩa tránh khỏi những khó khăn, nhưng ý chính của nó là tất cả những gì đem lại lợi ích tốt nhất cho con người.” Đối với vị hoàng đế khắc kỷ La mã Marc Aurèle “bình an là một trạng thái tâm trí lý tưởng.” `Trong khi hòa bình rất quí cho mọi quốc gia để phất triển và thịnh vượng, bình an tối quan trọng cho loài người để vui sống. Loài người không thể có yên nghỉ trong lòng khi chưa hòa thuận với Đ ức Ch úa Tr ời; và con người chỉ có thể hòa thuận với Đấng Sáng tạo qua cái chết chuộc tội của Chúa Cứu Thế. Ai tin nhận Chúa Giê-Su làm Cứu Chúa thì được tha tội và hòa thuận với Đ ức Ch úa Tr ời. Người tin Chúa Giê-Su sẽ có bình an vì Ngài là “Chúa Bình An,” và là Đấng ban bình an. Ai tin Ngài thì Đức Thánh Linh ngự vô lòng, và nhờ Đ ứ c Th á nh Linh người đó có những bông trái gọi là bông trái Thánh Linh trong đó có sự bình an. Những tín hữu nào còn nặng gánh lo âu, tâm thần bối rối, bị trầm cảm cần cầu nguyện và nhờ Hội Thánh cầu thay, ví ý Chúa không phải là bất an, nhưng bình an. Bất an khiến chúng ta suy nhược thần kinh. 4. NH ỊN NH ỤC Hi văn “makrothumia” l à sự nhịn nhục đối với con người. Một người có thể trả thù, nhưng không làm; một người chậm giận (Thánh Chrystom). Nhịn nhục là một trong những bản tính của Đức Chúa Trời. Nếu Ngài là ocn người thì thế gian đã bị tiêu diệt từ lâu, nhưng Ngài chịu đựng con người. (Tham chiếu Rô-ma 2:4; 1 Ti-i-mô-thê 1:18; 1 Phi-e-rơ 3:20). 5. NH ÂN T Ừ (NH ÂN ÁI, L ÒNG TH Ư ƠNG X ÓT) “Nhân từ tuy không cùng nghĩa với lòng tốt, lòng tử tế, lòng thương xót, lòng trắc ẩn… nhưng những từ ngữ này hay được dùng thay thế nhau. Tình yêu là động lực của lòng nhân từ, nhân từ là nỗ lực diễn tả tình yêu một cách hiển nhiên. Trong khi tình yêu gây cảm xúc, nhân từ đưa đến hành động như làm điều thiện, làm lành…” (An Khang Tâm Linh—Châu Sa, trang 17). Những người làm công tác từ thiện là những người có lòng nhân. Chúng ta có thể nhận thấy những nước cứu tế nhiều là những nước “yêu thương người lân cận như mình”. "Đức Giê-hô-va có lòng thương xót, hay làm ơn, Chậm nóng giận, và đầy sự nhân từ." - Thi-thiên 103:8 "Hãy ở với nhau cách nhân từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy." - Ê-phê-sô 4:32 Nhân từ là bản tính của Đức Chúa Trời. Người tin Ngài phải bắt chước Ngài. Điều này không ai có thể có thể thực hiện được, nhưng duy chỉ khi nào Chúa Giê-su ban sức chúng ta mới có thể yêu thương như Ngài. 6. HIỀN LÀNH—NHU MÌ—KHIÊM HÒA • tuân thủ và lo lắng cho phù hợp với ý kiến của mình về những người khác • phục tùng và phục tùng. • bình tĩnh, không dễ bị khiêu khích hoặc bị kích thích; không vô ích, hay kiêu ngạo, hay bực bội; phục tùng. • dịu dàng bình tĩnh, kiên nhẫn. Kinh thánh nói, “Ngài sẽ dẫn kẻ hiền từ cách chánh trực, Chỉ dạy con đường Ngài cho người nhu mì.” Thi thiên 25:9 Đức Chúa Trời hứa sẽ dẫn dắt kẻ hiền từ, và dạy người nhu mì. “Thà khiêm nhượng mà ở với người nhu mì, Còn hơn là chia của cướp cùng kẻ kiêu ngạo.” Châm ngôn 16:19 “Phước cho những kẻ nhu mì, vì sẽ hưởng được đất!” Ma-thi-ơ 5:5 Đức Chúa Trời sẽ thưởng cho ai vâng phục Ngài. Kinh thánh nói về Môi-se, “Vả, Môi-se là người rất khiêm hòa hơn mọi người trên thế gian.” Dân số 12:3 Câu này được đưa vào để giải thích là Môi-se đã giữ được bình tĩnh, không minh oan cho mình khi bị bà Mi-ri-am và ông A-rôn chỉ trích và lý do tại sao Chúa kịp thời can thiệp vào vụ việc. 7. TRUNG TÍN Người quân tử trung tín với vua đến độ phải vui vẻ chấp nhận cái chết dù cho bị bức hiếp, hoặc đối xử bất công. Đức Chúa Trời chỉ yêu cầu người yêu mến Ngài vâng giữ điều răn và mệnh lệnh của Ngài. “Nếu con cháu người từ bỏ Kinh Luật của Ta Và không đi theo sắc lệnh của Ta…Thì Ta sẽ lấy trượng phạt đòn sự vi phạm của chúng nó Và dùng roi mà phạt sự gian ác của chúng.” Thi thiên 89:30, 32 (Bản dịch mới) Và khi họ không vâng giữ mệnh lệnh của Chúa thì Ngài chỉ đánh đòn họ mà thôi. Nhưng Ngài “sẽ chẳng cất lấy sự nhân từ ta khỏi người, Và sự thành tín ta cũng sẽ chẳng hết.” (Thi thiên 89:33) Chúa yêu cầu người tin Ngài trung tín với Ngài, nhưng Ngài cũng thành tín với họ, trong khi nhà vua không cần phải thành tín với tôi tớ của vua. 8. TIẾT ĐỘ Tiết độ là biết tự chế. Từ này được dịch từ Hi văn ἐγκράτεια (egkrateia). Nó có nguồn gốc từ ἐν en và kratos, κρατος "sức mạnh", sức mạnh có thể kềm chế đam mê thích thú và độc ác tất cả các loại. Nó biểu thị sức mạnh mà một người đàn ông có trên các khuynh hướng xấu xa của bản chất của mình. “Người Cơ đốc không chỉ kiêng đồ uống say sưa, nhưng cũng kiêng tất cả những đam mê, người sẽ tiết độ trong cách sống của mình, và trong sự xử lý tâm tính của mình. Một Cơ đốc nhân phải là một người tiết độ, và nếu ảnh hưởng của tôn giáo không sinh sản ra phẩm tính này, thì đó là sai lầm và vô ích. Kiêng đồ uống say sưa, cũng như những sự phấn khích không phù hợp, là yêu cầu của tôn giáo. Không có ai từng bị tổn thương vì tiết độ chặt chẽ, kiêng cử rượu mạnh. Không có gì tai tiếng hơn là say sưa, và một người chịu ảnh hưởng của Chúa Thánh Linh là một người có tiết độ.” Trong Kinh thánh Cựu Ước tôi thấy có ba thanh niên có tư cách của người “quân tử”, và cũng có bông trái của Thánh Linh. Đó là Giô-sép, Đa-vít và Đa-niên. • GIÔ SÉP Bị bán làm nô lệ, ông không than trời, trách đất, nhưng hết lòng phụ vụ chủ, đến độ chủ tin cậy, giao quyền quản lý mọi việc trong nhà. Khi bị cám dỗ Giô sép không đầu hàng vì trung thành với chủ và vợ của chủ. Ông là người có nghĩa, đáng tin cậy. Ông không phạm tội, nhưng bị chủ giam vào ngục, Giô sép cũng không trách trời, cũng không oán hận người. Ông không nhìn lại đàng sau, nhưng quan tâm đến hiện tại và vui mừng trong Chúa, hết lòng phục vụ mọi người. Ông khôn ngoan, can đảm, nhu mì, tài trí. Ông tiên đoán kinh tế Ai cập sắp phát triển mạnh trong bảy năm, rồi bị suy thoái trong bảy năm. Ông có kế hoạch quản lý kinh tế, và được chọn làm Thủ tướng của một đại cường. Giô sép là người tài và đức vẹn toàn, là một người lãnh đạo gương mẫu của mọi thời đại. Ông cũng là người nhu mì trong cách đối xử với những người anh đã bán ông. Khi họ sợ ông trả thù ông trấn an họ, “Các anh em hãy lại gần tôi. Họ bèn lại gần. Người nói: Tôi là Giô-sép, em mà các anh đã bán đặng bị dẫn qua xứ Ê-díp-tô. Bây giờ, đừng sầu não, và cũng đừng tiếc chi về điều các anh đã bán tôi đặng bị dẫn đến xứ nầy; vì để giữ gìn sự sống các anh, nên Đức Chúa Trời đã sai tôi đến đây trước các anh.” Sáng thế 45:4, 5 Các anh của Giô sép sấp mình trước mặt ông, ông được quyền báo thù, nhưng tự chế, và nhận biết kế hoạch của Đức Chúa Trời. • ĐA VÍT Là con út trong gia đình Đa-vít được giao cho một nhiệm vụ ít quan trọng hơn hết. Đa-vít hết lòng chu toàn nhiệm vụ của ông. Khi chăn chiên của cha mình, hễ có sư tử hay là con gấu đến tha một con chiên của bầy thì ông đuổi theo, đánh nó, rứt con chiên khỏi miệng nó; hễ nó cất lên cự lại, thì ông nắm râu nó, đánh và giết nó đi. (1 Sa-mu-ên 17:34, 35) Đa-vít là một thanh niên dũng cảm. Cái dũng của Đa-vít là cái dũng của người Phương Nam, nghĩa là cái dũng có mưu trí, không phải cái dũng không có mưu kế. Ông dũng cảm khi đối diện người khổng lồ Đa-vít. Khi ông hỏi về phần thưởng dành cho người chiến thắng Gô-li-át, ông đã có kế hoạch hạ người không cắt bì này rồi. Ông can đảm vì có kinh nghiệm chiến đấu với thú dữ trong đồng vắng, và biết chắc Đức Chúa Trời ở với ông. Đa-vít cũng rất trung với vua. Dù vua Sau Lơ tìm cất mạng sống ông, nhưng Đa-vít một lòng tôn kính người được Chúa xức dầu. Đa-vít cũng phạm tội, nhưng biết hạ mình, ăn năn và vâng phục Chúa của ông. • ĐA NIÊN Lòng dũng cảm của Đa-niên thể hiện qua lời cầu xin không ăn thức ăn béo bổ của vua, không bỏ cầu nguyện khi vua ra lệnh không được cầu nguyện, và chấp nhận chịu ném vào hang sư tử. Đa-niên thành công trong việc học và trong chính trị. Ông phục vụ Ba-by-lôn, nhưng khi người Mê-đi Ba Tư chiếm Ba-by-lôn, vua chiến thắng vẫn lưu giữ Đa-niên, và còn thăng chức cho ông. NGƯỜI GƯƠNG MẪU TỐI THƯỢNG Chúng ta cũng phải nhớ đến Người Gương Mẫu Tối thượng của chúng ta. Đó là Chúa Cứu Thế Giê-Su. Ngài vứa là Con Người, vừa là Thần Nhân. Trong thân xác con người Ngài thuộc dòng vua Đa-vít (người quân tử). Ngài hiếu thảo với cha mẹ (vế phần xác), Kinh thánh nói, “Đoạn, Ngài theo về thành Na-xa-rét và chịu lụy cha mẹ.” (Lu-ca 2:51a) Ngài không hề phạm tội. Khi biết mình sắp chết, Chúa truyền cho một môn đệ thân tín tên Giăng chăm sóc bà mẹ vế phần xác của mình. Chúng ta học về chín bông trái của Thánh linh, và mong đạt được chin phẩm hạnh này, nhưng duy chỉ có Chúa Giê-Su, không những Ngài có chin đức tính thuộc linh kể trên, nhưng còn có tất cả những phẩm hạnh khác nữa. Phần kết luận chỉ cho chúng ta chìa khóa để trở thành con người gương mẫu. KẾT LUẬN Khổng giáo nhắm mục đích đào tạo một mẫu người kiểu mẫu, tài đức vẹn toàn. Giáo sư Trần ngọc Thêm nhận xét về Khổng giáo như sau: “Thất bại, bởi trong khỉ các bậc đế vương vốn quen cầm quyền cứ theo lối chuyên chế bằng vũ lực và pháp trị thì Khổng Tử lại khuyên họ nên cầm quyền theo lối nhân trị. Chính vì đi ngược lai xu thế chung như vậy cho nên sinh thời, Khổng Tử hầu như chẳng được ai dùng. Về già, ông đã trên một lần tiên đoán về sự suy tàn của đạo mình: "Ta đã suy lắm rồi, từ lâu không còn mộng thấy Chu Công!" (Luận ngữ); "Thiên hạ không có đạo đã lâu rồi, không ai biết theo ta". Khi sắp mất, nghe đồn có người bắt được con kì lân bị què chân trái, Không Tử nước mắt giàn giụa mà nói: “Đạo của ta đến lúc tàn rồi”. Thực vậy, Chúa Giê-Su dạy, “tâm thần thì muốn lắm, mà xác thịt thì yếu đuối” (Ma-thi-ơ 26:41). Con người muốn làm lành, nhưng không thể thực hiện điều mình muốn vì thể xác thì yếu đuối. Trở thành người quân tử là điều không thể thực hiện, nhất là trong thời kỳ hiện đại. Một người theo Chúa Giê-Su muốn trở nên giống như Ngài. Điều này cũng không thể thực hiện được. Tuy nhiên, một người biết “tự bỏ mình đi, vác thập tự giá mình” mà theo Chúa; một người biết “làm mạnh dạn trong Chúa, nhờ sức toàn năng của Ngài” thì mới có thể mỗi ngày mỗi giống Chúa hơn. Kinh thánh có chép: “Vì nếu bởi tội phạm của một người mà qua người đó sự chết thống trị thì cũng bởi một Người, Chúa Cứu Thế Giê-xu, mà những người nhận được ân sủng và tặng phẩm công chính cách dư dật, sẽ thống trị trong đời sống bội phần hơn là dường nào?” (Rô-ma 5:17) Huỳnh ngọc Ẩn 2 tháng Hai, 2014

Thursday, January 30, 2014

Con Người Gương Mẫu Năm trăm năm trước Chúa Giê-Su ra đời, Không Tử dạy triết lý của ông mà ngày nay chúng ta được biết dưới tên là ”Khổng giáo.” Khổng tử muốn đào tạo ra những người lãnh đạo gương mẫu, gọi là “người quân tử,” “con của vua,” một mẫu người lãnh đạo lý tưởng. Người quân tử là người giữ tam cương—ba mối liên hệ: vua--tôi, chồng--vợ, và cha--con--được tốt đẹp. Để đạt được mục đich ấy người quân tử phải thực thi năm giá trị luân lý—nhân, nghĩa, lễ, trí và tín. Trước hết chúng ta xem qua ba mối liên hệ. TAM CƯƠNG Tam cương là ba mối liên hệ quan trọng của người quân tử. I. LIÊN HỆ VUA TÔI Người quân tử phải trung thành và phục tùng nhà vua, người có thẩm quyền tuyệt đối trên người dân của mình. Nếu nhà vua ra lệnh cho đầy tớ mình phải chết, tôi tớ của ông phải sẵn sàng chấp nhận án tử hình. Bất kỳ khiếu nại chống lại lệnh của nhà vua bị coi là bất trung. Tuy nhiên, Khổng Tử cũng mong muốn nhà vua phải công chính, không chuyên chế; nhà vua cũng phải là người quân tử. Nguyên nhân của những cuộc nổi dậy là vì nhà vua thiếu chính trực. II. LIÊN HỆ CHA CON Nhiệm vụ của một người con trai là hết lòng phục vụ cha mình, dù khi còn sống hay sau khi chết. Con trai phải chăm sóc cha mình. Sau khi cha qua đời, người con trai dựng bàn thờ để thờ cha. Mối quan hệ đó được gọi là " lòng hiếu thảo”. Nhiều quốc gia châu Á vẫn đang giữ truyền thống đó. Nhưng, như chúng ta biết, đó chỉ là hình thức bề ngoài. Một người con trai đầu lòng được ca ngợi khi ông xây một cái mộ tuyệt đẹp cho cha mẹ, và cúng kiến vào những ngày kỷ niệm, dù anh không tôn kính cha mẹ khi họ còn sống. III. LIÊN HỆ CHỒNG VỢ Khổng giáo nhấn mạnh sự liên hệ của người vợ đối với chồng nhiều hơn là chồng đối với vợ. Một người vợ,theo Nho giáo, có ba nghĩa vụ: đầu tiên, một phụ nữ độc thân phải phục tùng cha mình, thứ hai, nếu đã kết hôn, cô phải phục tùng chồng, và thứ ba, sau khi chồng qua đời thì lệ thuộc con trai của mình. Nếu người chồng thực thi được năm giá trị luân lý—nhân, nghĩa, lễ, trí và tín—thì là một người chồng không chổ chê trách được. HAI MỐI LIÊN HỆ NỒNG CỐT CỦA CƠ ĐỐC NHÂN Theo lời Chúa Giê-su dạy, người Cơ đốc chỉ có hai mối liên hệ chính, liên hệ với Đức Chúa Trời và liên hệ với người lân cận. I. LIÊN HỆ VỚI TRỜI “Đức Chúa Giê-xu đáp: “Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết tâm trí mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi.” Ma-thi-ơ 22:37 Lúc ban đầu Đức Chúa Trời tạo ra loài người, Chúa và loài thọ tạo có mối liên hệ rất tốt. Ngài gặp họ mỗi ngày (Sáng thế 3:8). Nhưng, loài người không tin cậy Đức Chúa Trời và không nghe lời Ngài truyền, do đó mối liên hệ giữa Đấng Tạo Hóa và loài thọ tạo bị đứt đoạn. Đấng Tạo Hóa mong muốn hàn gắn lại mối liên hệ ấy. Ngài muốn loài người yêu mến Ngài hết lòng. Nhưng con người tìm mọi cách để tái lập mối liên hệ với Đức Chúa Trời, nhưng không đáp ứng yêu cầu của Ngài. Kinh thánh cho biết chỉ có một con đường để tiếp cận Chúa, đó là qua Chúa Giê-Su. Yêu mến Đức Chúa Trời với hết cả tấm lòng nghĩa là vâng phục. Chúa muốn chúng ta vâng lời Ngài vì lợi ích của chúng ta, trong khi nhà vua chỉ muốn thần dân phục tùng vì lợi ích riêng của vua. Người Việt Nam có câu: “Con cãi cha mẹ, trăm đàng con hư.” Cãi lời Đức Chúa Trời thì cũng không được tốt lành. Chúa Giê-Su dạy, “Nếu ai yêu mến Ta, thì sẽ vâng giữ lời Ta, Cha Ta sẽ yêu thương người, Chúng Ta sẽ đến cùng người, và ở với người” (Giăng 14:23). Khi người tin Chúa Giê-Su vâng giữ lời dạy của Ngài thì sẽ được Đức Chúa Cha thương yêu, ban phước và chăm sóc. Một người không trung thành với vua thì sẽ không được xem là người quân tử. Đức Chúa Trời muốn những ai tin cậy Ngài, trung thành với Ngài, nhưng Ngài cũng cho chúng ta quyền lựa chọn: trung thành hay không trung thành. Ai trung thành sẽ hưởng phước hạnh trong đời này và “mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời” (Ê-phê-sô 1:3--Bản dịch Truyền thống). II. LIÊN HỆ VỚI NGƯỜI LÂN CẬN “…và yêu thương người lân cận như chính mình.” Lu-ca 10:27 Đức Chúa Trời tạo ra loài người để chung sống với nhau và giúp đở lẫn nhau. Vì tội lỗi loài người không tôn trọng lẫn nhau, nhưng tranh chiến với nhau, tạo bất hòa và bất ổn. Để có thể thương yêu người lân cận như mình, trước hết mối liên hệ với Đức Chúa Trời cần phải được tái lập. Một khi được hòa thuận với Chúa thì loài người mới có thể hòa thuận lẫn nhau. Nhiều người không hiểu tại sao nước này nghịch cùng nước kia, người này lại ghét người nọ, nhưng họ biết, nếu các dân, các nước hợp tác với nhau thì sự sống sẽ vui thỏa là dường nào. Bất cứ ai có thể gìn giữ hai mối liên hệ nói trên tốt đẹp là đáp ứng yêu cầu của Đức Chúa Trời. Hai mối liên hệ này là nền tảng của những mối liên hệ khác. NĂM PHẨM HẠNH CỦA NGƯỜI QUÂN TỬ Để đủ tư cách của người quân tử, một người nam phải thực thi năm phẩm hạnh sau đây. • Nhân: Là lòng từ thiện. Khổng Tử nói: Khi ở nhà giữ gìn dung mạo khiêm cung; khi ra làm việc thi hành một cách kính cẩn; khi giao thiệp với người, giữ lòng trung thành. Dẫu đi tới các đoàn rợ phương đông và phương bắc, cũng chẳng bỏ ba đức hạnh cung, kính và trung ấy, như vậy là người có đức nhân • Nghĩa: Là việc nên làm hay là cách xử sự phải đường hoàng, hào hiệp. Hành vi của con người phải tuân theo tính chính đáng, chú trọng quy tắc, tiêu chuẩn, trọng tâm là nghĩa vụ và trách nhiệm. Trước khi làm gì phải xem xét hành vi đó có hướng đến điều “thiện” hay không, có thể hiện tiêu chuẩn đạo nghĩa, ý thức trách nhiệm với cộng đồng hay không. • Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người, mở rộng ra là việc tuân thủ các quy tắc, nguyên tắc đạo đức xã hội và pháp luật. Một cách căn bản, chính nghi lễ và nghi thức làm cho cuộc sống quân bình. Lễ làm bền vững nền văn hiến của một nước, lễ mà bại hoại thì văn hiến cũng tiêu tan. Khổng Tử nói: "Cung kính mà thiếu lễ thì làm thân mình lao nhọc. Cẩn thận mà thiếu lễ thì trở thành nhút nhát. Dũng cảm mà thiếu lễ sẽ trở thành rối loạn. Ngay thẳng mà thiếu lễ sẽ trở nên thô lỗ”. • Trí: Óc khôn ngoan, sáng suốt. Cảm giác đúng và sai. Biết tiên liệu, tính toán để hành động hợp đạo lý. • Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy. Chữ tín vốn nằm trong 4 điều trên, sau này được tách ra để thành Ngũ thường. Tín là thước đo, là sự phản ánh 4 giá trị trên. Đạt được những phẩm hạnh cũng không dễ hơn giữ những Điều răn của Môi-se. Khổng Tử muốn đào tạo người quân tử để trở thành một nhà lãnh đạo không chổ chê trách được, để trị quốc và lo cho dân. Tu thân nghĩa là rèn luyện tinh thần để đạt được năm phẩm hạnh của người quân tử. Tu thân là điều kiện tiên quyết để tề gia; phải tề gia trước rồi mới có thể trở thành lãnh đạo--trị quốc. Ngày nay, chúng ta không tìm ra được nhiều nhà lãnh đạo quan tâm đến tu thân, tề gia và năm phẩm tính nói trên. CHÍN MỸ ĐỨC CỦA CƠ ĐỐC NHÂN “Nhưng trái của Thánh Linh là: Yêu thương, vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, khiêm nhu, tiết độ.” (Ga-la-ti 5:22) Trong khi người quân tử phải thực thi năm phẩm tính, Cơ đốc nhân nhận được từ Đức Thánh Linh chin mỹ đức. Đây không phải là một vấn đề gắng công ra sức, nhưng là một sự lựa chọn đầu phục Chúa, người chủ thiêng thượng. Phao Lô, trong thư Ga-la-ti, nói, “Tôi đã cùng bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Cơ Đốc, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Cơ Đốc sống trong tôi…” (2:20) Với sức người, không ai có khả năng thực thi chin mỹ đức nói trên. Chỉ khi nào Chúa Cứu Thế thật sự cai trị linh hồn một Cơ đốc nhân thì người ấy mới có đạt được chin mỹ đức ấy. Chúng ta có thể ví công việc này với một người tài xế giao tay lái cho Chúa điều khiển, và người ấy ngồi ngắm cảnh thiên nhiên tuyệt vời, và được đưa đến điểm đến an toàn. 1. TÌNH YÊU THƯƠNG Kinh Thánh cho biết Đức Chúa Trời là tình yêu thương, và con người được tạo dựng theo hình và tượng Ngài. Cho nên, con người có nhu cầu yêu và được yêu thương. Chúa Giê-su dạy, “Không có tình yêu thương nào lớn hơn tình yêu thương vì bạn hữu mà hi sinh mạng sống mình” (Giăng 15:13). Rất hiếm có ai vì lòng nhân có thể hi sinh mạng sống mình vì bạn hữu. Đức Chúa Trời vì yêu thương nhân gian phải hi sinh Con một của Ngài, để nhờ Con ấy loài người mới có thể làm hòa lại với Ngài, mới có thể tái lập mối liên hệ bị tội lỗi cắt đứt. Một người có mối liên hệ tôt với Chúa mới có tình thương yêu. Con mang trong máu ADN của cha. Người có Chúa có tình yêu của Ngài. Sứ đồ Giăng trong thư Giăng 1, nói, “Nếu có ai nói: ‘‘Tôi yêu thương Đức Chúa Trời,” mà lại ghét anh em mình, thì người ấy là kẻ nói dối. Vì người nào không yêu thương anh em mình thấy, thì không thể yêu thương Đức Chúa Trời mình không thấy được. 1 Giăng 4:20 Người dân tộc Karen ở Myanmar theo Cơ đốc giáo rất đông. Họ bị bắt bớ, hoạn nạn. Gần đây, khi Philippines bị siêu bảo tàn phá, người Karen trong một trại tị nạn quyên góp được 212 đô la để gởi giúp người Philippines, kèm theo một lá thư. Người đại diện viết, “Khi chúng tôi gặp khó khăn, họ giúp chúng tôi. Cả thế giới đổ vào để giúp. Chúng tôi không cho từ sự dư dật, nhưng từ lòng dâng hiến cho Đức Chúa Trời, vì Ngài đã gìn giữ chúng tôi trong mùa khô hạn trong trại tị nạn. Chúng tôi muốn gởi một món quà mọn, từ tấm lòng đến anh chị em người Philippines.” Đó thực là lòng nhân. 2. VUI MỪNG Trong bức thư gởi H ội th ánh Phi-líp, Phao-Lô khuyến khích họ vui mừng trong khi, đáng lý họ phải khuyến khích ông vui mừng vì ông đang bị ở tù tại La-Mã. Sự vui mừng là ý tưởng chủ yếu của thư tín Phi-líp. Vui mừng và cảm xúc liên hệ xuất hiện 19 lần trong tín thư này. Vui mừng là một trong chín bông trái của Đức Thánh Linh, nó không lệ thuộc vào hoàn cảnh bên ngoài, nhưng là một kết quả của người tín đồ thiêng liêng. Một người chỉ nhận được loại vui mừng này qua mối liên hệ mật thiết với Chúa Cứu Thế. Trong Ngài chúng ta có sự vui mừng. Ngài ban linh lực để chúng ta có thể vui mừng trong nghịch cảnh như trường hợp của Phao-Lô. Ở trong tù ông vẫn có thể khuyên người được tự do, “Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn; tôi xin nhắc lại: Hãy vui mừng lên” (Phi-líp 4:4). Sứ đồ Phi-e-rơ khuyên người tin Chúa không nên để cho hoạn nạn, thử thách làm nản lòng vì chúng chỉ tạm thời. Nhưng chúng ta cần nên vui mừng vì đức tin sẽ lớn lên khi bị thử thách. Ông cũng bảo chúng ta vui mừng hầu dự phần vào khổ nạn của Chúa Giê-Su, để chúng ta quá vui khi sự vinh hiển Ngài được phơi bày ra (1 Phi-e-rơ 4:13). Sứ đồ Gia-cơ đồng tình với Phao-Lô và Phi-e-rơ khi ông dạy, “Thưa anh chị em, khi gặp những thử thách khác nhau, anh chị em hãy xem tất cả là điều vui mừng, vì biết rằng đức tin anh chị em có bị thử nghiệm mới sinh ra kiên nhẫn, kiên nhẫn có hoàn tất công việc thì anh chị em mới trưởng thành, toàn vẹn, không thiếu sót gì” (Gia-cơ 1:2-4). Nếu những sứ đồ không nắm bắt những lẽ thật này, họ cảm thấy nản lòng, và mất hết nghị lực khi họ không tin rằng Chúa của họ vẫn ở bên cạnh và sẵn sàng nâng đở họ lên. Muốn vui hưởng đời sống dư dật theo ý muốn của Chúa, tín đồ cần giữ mối liên hệ thân thiết với Cứu Chúa. Nhiều người phải tuận đạo, nhưng không phải ai cũng phải tuận đạo, nhưng tín đồ phải tập vui mừng trong nghịch cảnh vì con đường Chúa đi không phải lúc nào cũng bằng phẳng, nhưng đầy chông gai, như Ngài đã báo trước cho chúng ta, “Trong thế gian, các con sẽ gặp hoạn nạn; nhưng hãy an tâm! Ta đã thắng thế gian rồi” (Giăng 16:33). Ngài đã thắng thế gian rồi, đó có phải là điều đáng cho chúng ta vui mừng không? 3. BÌNH AN Bình an dịch từ Hi văn eirene có hai cách dùng: a. “Chỉ sự an cư lạc nghiệp dưới một chế độ công bằng, bác ái của một vị minh quân. “ b. “Chỉ một trật tự tốt tại thành phố hay trong làng mạc. Hi văn eirene tương đương với tiếng Hi bá lai shalom không chỉ có nghĩa tránh khỏi những khó khăn, nhưng ý chính của nó là tất cả những gì đem lại lợi ích tốt nhất cho con người.” Đối với vị hoàng đế khắc kỷ La mã Marc Aurèle “bình an là một trạng thái tâm trí lý tưởng.” `Trong khi hòa bình rất quí cho mọi quốc gia để phất triển và thịnh vượng, bình an tối quan trọng cho loài người để vui sống. Loài người không thể có yên nghỉ trong lòng khi chưa hòa thuận với Đ ức Ch úa Tr ời; và con người chỉ có thể hòa thuận với Đấng Sáng tạo qua cái chết chuộc tội của Chúa Cứu Thế. Ai tin nhận Chúa Giê-Su làm Cứu Chúa được tha tội và hòa thuận với Đ ức Ch úa Tr ời. Người tin Chúa Giê-Su sẽ có bình an vì Ngài là “Chúa Bình An,” và là Đấng ban bình an. Ai tin Ngài thì Đức Thánh Linh ngự vô lòng, và nhờ Đ ứ c Th á nh Linh người đó có những bông trái gọi là bông trái Thánh Linh trong đó có sự bình an. Những tín hữu nào còn nặng gánh lo âu, tâm thần bối rối, bị trầm cảm cần cầu nguyện và nhờ Hội Thánh cầu thay, ví ý Chúa không phải là bất an, nhưng bình an. Bất an khiến chúng ta suy nhược thần kinh. 4. NH ỊN NH ỤC Hi văn “makrothumia” l à sự nhịn nhục đối với con người. Một người có thể trả thù, nhưng không làm; một người chậm giận (Thánh Chrystom). Nhịn nhục là một trong những bản tính của Đức Chúa Trời. Nếu Ngài là ocn người thì thế gian đã bị tiêu diệt từ lâu, nhưng Ngài chịu đựng con người. (Tham chiếu Rô-ma 2:4; 1 Ti-i-mô-thê 1:18; 1 Phi-e-rơ 3:20). 5. NH ÂN T Ừ (NH ÂN ÁI, L ÒNG TH Ư ƠNG X ÓT) “Nhân từ tuy không cùng nghĩa với lòng tốt, lòng tử tế, lòng thương xót, lòng trắc ẩn… nhưng những từ ngữ này hay được dùng thay thế nhau. Tình yêu là động lực của lòng nhân từ, nhân từ là nỗ lực diễn tả tình yêu một cách hiển nhiên. Trong khi tình yêu gây cảm xúc, nhân từ đưa đến hành động như làm điều thiện, làm lành…” (An Khang Tâm Linh—Châu Sa, trang 17). Những người làm công tác từ thiện là những người có lòng nhân. Chúng ta có thể nhận thấy những nước cứu tế nhiều là những nước “yêu thương người lân cận như mình”. "Đức Giê-hô-va có lòng thương xót, hay làm ơn, Chậm nóng giận, và đầy sự nhân từ." - Thi-thiên 103:8 "Hãy ở với nhau cách nhân từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy." - Ê-phê-sô 4:32 Nhân từ là bản tính của Đức Chúa Trời. Người tin Ngài phải bắt chước Ngài. Điều này không phải dễ làm, nhưng bất khả thi. Duy chỉ khi nào Chúa Giê-su ban sức chúng ta mới có lòng nhân. 6. HIỀN LÀNH—NHU MÌ—KHIÊM HÒA • tuân thủ và lo lắng cho phù hợp với ý kiến của mình về những người khác • phục tùng và phục tùng. • bình tĩnh, không dễ bị khiêu khích hoặc bị kích thích; không vô ích, hay kiêu ngạo, hay bực bội; phục tùng. • dịu dàng bình tĩnh, kiên nhẫn. Kinh thánh nói, “Ngài sẽ dẫn kẻ hiền từ cách chánh trực, Chỉ dạy con đường Ngài cho người nhu mì.” Thi thiên 25:9 Đức Chúa Trời hứa sẽ dẫn dắt kẻ hiền từ, và dạy người nhu mì. “Thà khiêm nhượng mà ở với người nhu mì, Còn hơn là chia của cướp cùng kẻ kiêu ngạo.” Châm ngôn 16:19 “Phước cho những kẻ nhu mì, vì sẽ hưởng được đất!” Ma-thi-ơ 5:5 Đức Chúa Trời sẽ thưởng cho ai vâng phục Ngài. Kinh thánh nói về Môi-se, “Vả, Môi-se là người rất khiêm hòa hơn mọi người trên thế gian.” Dân số 12:3 Câu này được đưa vào để giải thích là Môi-se đã giữ được bình tĩnh, không minh oan cho mình khi bị bà Mi-ri-am và ông A-rôn chỉ trích và lý do tại sao Chúa kịp thời can thiệp vào vụ việc. 7. TRUNG TÍN Người quân tử trung tín với vua đến độ phải vui vẻ chấp nhận cái chết dù cho bị bức hiếp, hoặc đối xử bất công. Đức Chúa Trời chỉ yêu cầu người yêu mến Ngài vâng giữ điều răn và mệnh lệnh của Ngài. “Nếu con cháu người từ bỏ Kinh Luật của Ta Và không đi theo sắc lệnh của Ta…Thì Ta sẽ lấy trượng phạt đòn sự vi phạm của chúng nó Và dùng roi mà phạt sự gian ác của chúng.” Thi thiên 89:30, 32 (Bản dịch mới) Và khi họ không vâng giữ mệnh lệnh của Chúa thì Ngài chỉ đánh đòn họ mà thôi. Nhưng Ngài “sẽ chẳng cất lấy sự nhân từ ta khỏi người, Và sự thành tín ta cũng sẽ chẳng hết.” (Thi thiên 89:33) Chúa yêu cầu người tin Ngài trung tín với Ngài, nhưng Ngài cũng thành tín với họ, trong khi nhà vua không cần phải thành tín với tôi tớ của vua. 8. TIẾT ĐỘ Tiết độ là biết tự chế. Từ này được dịch từ Hi văn ἐγκράτεια (egkrateia). Nó có nguồn gốc từ ἐν en và kratos, κρατος "sức mạnh", sức mạnh có thể kềm chế đam mê thích thú và độc ác tất cả các loại. Nó biểu thị sức mạnh mà một người đàn ông có trên các khuynh hướng xấu xa của bản chất của mình. “Người Cơ đốc không chỉ kiêng đồ uống say sưa, nhưng cũng kiêng tất cả những đam mê, người sẽ tiết độ trong cách sống của mình, và trong sự xử lý tâm tính của mình. Một Cơ đốc nhân phải là một người tiết độ, và nếu ảnh hưởng của tôn giáo không sinh sản ra phẩm tính này, thì đó là sai lầm và vô ích. Kiêng đồ uống say sưa, cũng như những sự phấn khích không phù hợp, là yêu cầu của tôn giáo. Không có ai từng bị tổn thương vì tiết độ chặt chẽ, kiêng cử rượu mạnh. Không có gì tai tiếng hơn là say sưa, và một người chịu ảnh hưởng của Chúa Thánh Linh là một người có tiết độ.” Trong Kinh thánh Cựu Ước tôi thấy có ba thanh niên có tư cách của người “quân tử”, và cũng có bông trái của Thánh Linh. Đó là Giô-sép, Đa-vít và Đa-niên. • GIÔ SÉP Bị bán làm nô lệ, ông không than trời, trách đất, nhưng hết lòng phụ vụ chủ, đến độ chủ tin cậy, giao quyền quản lý mọi việc trong nhà. Khi bị cám dỗ Giô sép không đầu hàng vì trung thành với chủ và vợ của chủ. Ông là người có nghĩa, đáng tin cậy. Ông không phạm tội, nhưng bị chủ giam vào ngục, Giô sép cũng không trách trời, cũng không oán hận người. Ông không nhìn lại đàng sau, nhưng quan tâm đến hiện tại và vui mừng trong Chúa, hết lòng phục vụ mọi người. Ông khôn ngoan, can đảm, nhu mì, tài trí. Ông tiên đoán kinh tế Ai cập sắp phát triển mạnh trong bảy năm, rồi bị suy thoái trong bảy năm. Ông có kế hoạch quản lý kinh tế, và được chọn làm Thủ tướng của một đại cường. Giô sép là người tài và đức vẹn toàn, là một người lãnh đạo gương mẫu của mọi thời đại. Ông cũng là người nhu mì trong cách đối xử với những người anh đã bán ông. Khi họ sợ ông trả thù ông trấn an họ, “Các anh em hãy lại gần tôi. Họ bèn lại gần. Người nói: Tôi là Giô-sép, em mà các anh đã bán đặng bị dẫn qua xứ Ê-díp-tô. Bây giờ, đừng sầu não, và cũng đừng tiếc chi về điều các anh đã bán tôi đặng bị dẫn đến xứ nầy; vì để giữ gìn sự sống các anh, nên Đức Chúa Trời đã sai tôi đến đây trước các anh.” Sáng thế 45:4, 5 Các anh của Giô sép sấp mình trước mặt ông, ông được quyền báo thù, nhưng tự chế, và nhận biết kế hoạch của Đức Chúa Trời. • ĐA VÍT Là con út trong gia đình Đa-vít được giao cho một nhiệm vụ ít quan trọng hơn hết. Đa-vít hết lòng chu toàn nhiệm vụ của ông. Khi chăn chiên của cha mình, hễ có sư tử hay là con gấu đến tha một con chiên của bầy thì ông đuổi theo, đánh nó, rứt con chiên khỏi miệng nó; hễ nó cất lên cự lại, thì ông nắm râu nó, đánh và giết nó đi. (1 Sa-mu-ên 17:34, 35) Đa-vít là một thanh niên dũng cảm. Cái dũng của Đa-vít là cái dũng của người Phương Nam, nghĩa là cái dũng có mưu trí, không phải cái dũng không có mưu kế. Ông dũng cảm khi đối diện người khổng lồ Đa-vít. Khi ông hỏi về phần thưởng dành cho người chiến thắng Gô-li-át, ông đã có kế hoạch hạ người không cắt bì này rồi. Ông can đảm vì có kinh nghiệm chiến đấu với thú dữ trong đồng vắng, và biết chắc Đức Chúa Trời ở với ông. Đa-vít cũng rất trung với vua. Dù vua Sau Lơ tìm cất mạng sống ông, nhưng Đa-vít một lòng tôn kính người được Chúa xức dầu. Đa-vít cũng phạm tội, nhưng biết hạ mình, ăn năn và vâng phục Chúa của ông. • ĐA NIÊN Lòng dũng cảm của Đa-niên thể hiện qua lời cầu xin không ăn thức ăn béo bổ của vua, không bỏ cầu nguyện khi vua ra lệnh không được cầu nguyện, và chấp nhận chịu ném vào hang sư tử. Đa-niên thành công trong việc học và trong chính trị. Ông phục vụ Ba-by-lôn, nhưng khi người Mê-đi Ba Tư chiếm Ba-by-lôn, vua chiến thắng vẫn lưu giữ Đa-niên, và còn thăng chức cho ông. NGƯỜI GƯƠNG MẪU TỐI THƯỢNG Chúng ta cũng phải nhớ đến Người Gương Mẫu Tối thượng của chúng ta. Đó là Chúa Cứu Thế Giê-Su. Ngài vứa là Con Người, vừa là Thần Nhân. Trong thân xác con người Ngài thuộc dòng vua Đa-vít (người quân tử). Ngài hiếu thảo với cha mẹ (vế phần xác), Kinh thánh nói, “Đoạn, Ngài theo về thành Na-xa-rét và chịu lụy cha mẹ.” (Lu-ca 2:51a) Ngài không hề phạm tội. Khi biết mình sắp chết, Chúa truyền cho một môn đệ thân tín tên Giăng chăm sóc bà mẹ vế phần xác của mình. Chúng ta học về chín bông trái của Thánh linh, và mong đạt được chin phẩm hạnh này, nhưng duy chỉ có Chúa Giê-Su, không những Ngài có chin đức tính thuộc linh kể trên, nhưng còn có tất cả những phẩm hạnh khác nữa. Phần kết luận chỉ cho chúng ta chìa khóa để trở thành con người gương mẫu. KẾT LUẬN Khổng giáo nhắm mục đích đào tạo một mẫu người kiểu mẫu, tài đức vẹn toàn. Giáo sư Trần ngọc Thêm nhận xét về Khổng giáo như sau: “Thất bại, bởi trong khỉ các bậc đế vương vốn quen cầm quyền cứ theo lối chuyên chế bằng vũ lực và pháp trị thì Khổng Tử lại khuyên họ nên cầm quyền theo lối nhân trị. Chính vì đi ngược lai xu thế chung như vậy cho nên sinh thời, Khổng Tử hầu như chẳng được ai dùng. Về già, ông đã trên một lần tiên đoán về sự suy tàn của đạo mình: "Ta đã suy lắm rồi, từ lâu không còn mộng thấy Chu Công!" (Luận ngữ); "Thiên hạ không có đạo đã lâu rồi, không ai biết theo ta". Khi sắp mất, nghe đồn có người bắt được con kì lân bị què chân trái, Không Tử nước mắt giàn giụa mà nói: “Đạo của ta đến lúc tàn rồi”. Thực vậy, Chúa Giê-Su dạy, “tâm thần thì muốn lắm, mà xác thịt thì yếu đuối” (Ma-thi-ơ 26:41). Con người muốn làm lành, nhưng không thể thực hiện điều mình muốn vì thể xác thì yếu đuối. Trở thành người quân tử là điều không thể thực hiện, nhất là trong thời kỳ hiện đại. Một người theo Chúa Giê-Su muốn trở nên giống như Ngài. Điều này cũng không thể thực hiện được. Tuy nhiên, một người biết “tự bỏ mình đi, vác thập tự giá mình” mà theo Chúa; một người biết “làm mạnh dạn trong Chúa, nhờ sức toàn năng của Ngài” thì mới có thể mỗi ngày mỗi giống Chúa hơn. Kinh thánh có chép: “Vì nếu bởi tội phạm của một người mà qua người đó sự chết thống trị thì cũng bởi một Người, Chúa Cứu Thế Giê-xu, mà những người nhận được ân sủng và tặng phẩm công chính cách dư dật, sẽ thống trị trong đời sống bội phần hơn là dường nào?” (Rô-ma 5:17) Huỳnh ngọc Ẩn 28 tháng Giêng, 2014

Thursday, January 2, 2014

Giá Trị Tiềm Ẩn Ngày mồng một tháng Giêng 2014, tôi đọc lướt qua emails và thấy bài viết ngắn sau đây. Tôi thêm bình luận và xin chia sẻ với các sinh viên Trường Kinh thánh cho Việt nam, Ngày xửa ngày xưa, bên Ai Cập có một vị hiền triết tên là Zun-Nun. Ngày kia, một anh thanh niên đến và hỏi ông: "Thưa ngài, tôi không hiểu tại sao những người đáng kính như ngài luôn ăn mặc theo một cách giống nhau và luôn luôn đơn giản như vậy. Chẳng lẽ không cần chưng diện một tí, không phải để khoe khoang, nhưng còn vì mục đích khác nữa chứ, thưa ngài?". Nhà hiền triết chỉ cười và cởi chiếc nhẫn ở tay ra, trao cho chàng trai và nói: "Này anh bạn trẻ, ta sẽ trả lời câu hỏi của cậu, nhưng trước tiên cậu phải giúp ta việc này đã. Hãy cầm lấy chiếc nhẫn này và đi đến khu chợ bên kia đường, cậu hãy đổi nó lấy một đồng vàng". Cầm chiếc nhẫn đen đúa của Zun-Nun trên tay, chàng thanh niên tỏ vẻ nghi ngại: "Một đồng vàng? Tôi không chắc là chiếc nhẫn có thể bán được với giá đó". "Thử trước đã chàng trai, ai biết được điều gì có thể xảy ra?". Chàng trai trẻ phóng nhanh ra chợ. Anh ta đem chiếc nhẫn vào hàng tơ lụa, rau cải, thịt cá và rất nhiều nơi khác. Nhưng sự thực là không ai đồng ý trả cho anh ta với cái giá đó. Anh ta quay về gặp Zun-Nun và nói: "Thưa ngài, không một ai đồng ý bỏ ra một số tiền nhiều hơn một đồng bạc để mua chiếc nhẫn này cả". Với một nụ cười nhẹ nhàng trên khuôn mặt trầm tĩnh, nhà hiền triết đáp lời: "Bây giờ anh hãy ra tiệm vàng ở cuối đường, đưa chiếc nhẫn này cho ông chủ. Đừng yêu cầu giá bán nhưng chỉ lắng nghe xem ông ta trả giá bao nhiêu". Chàng thanh niên đi đến tiệm vàng theo yêu cầu và sau đó quay về với vẻ mặt khác hẳn. Anh ta nói: "Thưa ngài, những lái buôn ở chợ rõ ràng không biết giá trị của chiếc nhẫn này, người chủ tiệm vàng đã đồng ý mua chiếc nhẫn này với giá một ngàn đồng vàng, và giá trị thật của nó thì gấp cả ngàn lần so với cái giá của những con buôn ở chợ" Zun-Nun mỉm cười và ôn tồn nói: "Đó là câu trả lời cho câu hỏi của anh. Không thể đánh giá con người mà chỉ dựa vào cách ăn mặc bề ngoài. Những lái buôn ở chợ định giá theo kiểu đó. Nhưng những nhà buôn vàng thì không như thế. Vàng và đá quý tồn tại bên trong mỗi con người, chỉ có thể được nhận ra và xác định giá trị nếu anh có thể nhìn thấu tâm hồn. Cần có con tim để nhìn và cả một quá trình dài lâu. Chúng ta không thể ngang nhiên đánh giá người khác mà chỉ dựa vào những lời lẽ và cách cư xử trong một lúc nào đó. Nhiều lúc cái mà ta nghĩ là vàng hóa ra là đồng thau, nhưng thứ ta tưởng là đồng thau thì lại chính là vàng thật". Lời đầu tiên Chúa Giê-Su phán với ông Ni-cô-đem, khi vị quan Do thái này ra mắt Ngài là: “Thật vậy, Ta bảo ông, nếu một người chẳng sinh từ thiên thượng [†] thì không thể thấy Nước Đức Chúa Trời!” Ngày nay, nhờ Đức Thánh Linh là Thần Lẽ Thật, chúng ta mới hiểu lời dạy thâm uyên của Chúa, nhưng Ni-cô-đem lúc ấy không thể hiểu được. Nhờ sự dạy dỗ của Đức Thánh Linh chúng ta có thể hiểu ý Chúa muốn nói. Khi chúng ta chưa được sinh lại bởi Đức Thánh Linh, chúng ta chưa có giá trị thật, vì Đức Thánh Linh chưa ngự trong tâm chúng ta. Những nhà địa chất cho biết: “Kim cương được tạo thành từ những khoáng vật có chứa cacbon dưới nhiệt độ và áp suất rất cao. Trên Trái Đất, mọi nơi đều có thể có kim cương bởi vì ở một độ sâu nào đó thì sẽ tồn tại nhiệt độ đủ cao và áp suất đủ lớn để tạo thành kim cương.” Như vậy, thứ nhứt, kim cương quí giá được tạo thành từ cacbon, chỉ được dùng để đốt. Thứ hai, kim cương được luyện bằng áp xuát và sức nóng. Chúng ta có thể ví một Cơ đốc nhân trưởng thành trong Chúa Cứu Thế với một viên kim cương. Trước khi tin Chúa, một người giống như cacbon đen đúa vì tội lỗi. Kinh thánh nói, “vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất vinh quang của Đức Chúa Trời” (Rô-ma 3:23--Bản dịch 2002). Sau khi tin nhận Chúa Giê-Su làm Cứu Chúa, người ấy được tha thứ, để trở nên tinh sạch, vì Đức Thánh sẽ ngự vào lòng người ấy. Tuy nhiên, chất than vẫn còn tồn đọng trong lòng người ấy, cho đến khi người ấy tận hiến cuộc đời mình cho Ngài. Kim cương thật có giá trị khi nào không còn một chút cacbon nào đọng lại ở trong. Thợ kim hoàn phải dùng kính lúp để định giá trị của viên kim cương. Cácbon chỉ trở thành kim cương khi độ nóng đủ cao và dưới sức ép lớn. Muốn trưởng thành trong Chúa, giống Chúa, Cơ đốc nhân phải được vượt qua thử thách và gian nan. Một người đứng trên núi cao không lớn lên được, nhưng chỉ vươn lên khi ở dưới thung lũng sâu. Hội thánh Chúa phát triển qua những cơn bách hại. Trong những nước tự do, Cơ đốc giáo lại thụt lùi vì thiếu sức ép. Sách Đa niên kể chuyện ba thanh niên Do thái bị lưu đày ở Ba-by-lôn, bị ép phải quỳ lạy pho tượng do Na-bu-cát-nết-sa dựng lên. Nếu từ chối họ sẽ bị ném vào lò lửa. Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết Nê-gô tâu lê n vua, “Muôn tâu bệ hạ, chúng tôi không cần phải biện minh về vấn đề này. Nếu có một thần có quyền giải cứu chúng tôi, thì đó chính là Đức Chúa Trời chúng tôi đang phục vụ. Ngài có khả năng giải cứu chúng tôi khỏi lò lửa cháy phừng phừng và Ngài sẽ giải cứu chúng tôi khỏi tay bệ hạ. Còn nếu như Ngài không giải cứu chúng tôi, xin bệ hạ biết chắc rằng chúng tôi vẫn một mực không thờ các thần của bệ hạ, cũng không quỳ lạy pho tượng vàng bệ hạ đã cho dựng lên” (Đa-niên 3:16-18). Họ chấp nhận chịu chết vì Đức Chúa Trời họ thờ phượng. Hệ quả là Đức Chúa Trời mà họ hầu việc đã giải cứu họ ra khỏi lò lửa và được thăng quan tiến chức. Ngoài ra, họ còn cải đạo nhà vua. Nê-bu-cát-nết-sa tuyên bố: “Ngợi khen Đức Chúa Trời của Sa-đơ-rắc, A-bết Nê-sác và A-bết Nê-gô! Ngài đã sai thiên sứ Ngài giải cứu đầy tớ Ngài, là những người tin cậy Ngài, thà bất tuân lệnh vua, hy sinh tính mạng hơn là cúng thờ quỳ lạy thần nào khác ngoài Đức Chúa Trời của họ. Vì thế, ta ban hành nghị định này cho mọi quốc gia, dân tộc, và ngôn ngữ: bất cứ ai xúc phạm đến Đức Chúa Trời của Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết Nê-gô thì thân thể sẽ bị lăng trì, và nhà cửa bị tịch thu. Vì không có thần nào khác có quyền giải cứu như vậy” (Đa-niên 3:28, 29). Sa-đơ-rắc, A-bết Nê-sác và A-bết Nê-gô là than đá trở thành kim cương dưới áp lực và trong lửa hừng. Chúa Giê-su mô tả Nước thiên đàng trong sách Tin lành Ma-thi-ơ như sau: “Nước Thiên Đàng ví như kho châu báu chôn giấu trong ruộng. Có một người tìm thấy kho báu đó thì đem giấu. Quá mừng rỡ, người ấy đi bán hết gia tài mình để mua thửa ruộng đó.” (Ma-thi-ơ 13:44—BD 2002) ““Nước Thiên Đàng cũng ví như một thương gia đi tìm ngọc trai quý. Khi tìm được viên ngọc quý giá, liền đi bán hết gia tài để mua viên ngọc ấy.” (Ma-thi-ơ 14:45, 46) Chúng ta, những người đang học Kinh thánh và dạy Kinh thánh là những người biết giá trị của Tin lành. Hi vọng chúng ta đầu tư tất cả những gì Chúa ban vào Nước ấy. Muốn “trở nên người trưởng thành, đạt đến tầm vóc đầy trọn của Đấng Cơ Đốc” chúng ta phải chịu sức ép của đời, trải qua thử thách, tranh chiến với khó khăn trong cuộc sống. Điểm thứ hai mà tôi học được từ câu chuyện dụ ngôn ở trên là sự phán xét hời hợt. Chúng ta có khuynh hướng hay vội xét đoán một người qua bế ngoài của người ấy. Đức Chúa Trời mong muốn chúng ta có tấm lòng trong sạch. Điều này không có nghĩa là ăn mặc xốc xếch, dơ bẩn, nhưng “lành cho sạch, rách cho thơm.” Điều buồn cười là người ta ăn diện khi đi dự tiệc cưới, còn đi Nhà thờ thì không quan tâm, có khi còn mặc quần short (ngắn như người Châu Âu). * Năm mới xin mời quí vị cùng tôi dâng lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin thanh tẩy tấm lòng của con cho con giống như vàng được tinh luyện bằng lửa. Con chỉ có một ước mơ, ấy là được nên thánh, biệt riêng cho Ngài. Con lựa chọn được biệt riêng ra cho Chúa, sẵn sàng làm theo ý Cha.” (Purify My Heart—Brian Doerkson). Huỳnh ngọc Ẩn Mồng hai, tháng Giêng 2014

Tuesday, June 26, 2012

Qui' Vi. Muo^'n Nha^.p Cuo^.c Kho^ng?


Quí Vị Muốn Nhập Cuộc Không?

Thành phố New York, Hoa kỳ có khoảng 12.000 xe tắc-xi, nhưng chỉ có một chiếc trả tiền khách hàng đi xe khi họ tham gia một trò chơi trắc nghiệm kiến thức tổng quát. Trước khi bắt đầu chạy, người tài xế hỏi, “Are you in?” (Anh chi muốn tham gia cuộc chơi không?)

 Sách Sáng thế ký kể câu chuyện sáng tạo trời, đất, vạn vật và loài người.  Đấng Tạo Hóa—Đức Chúa Trời—tạo A-đam bằng bụi đất và Ê-va bằng xương sườn của A-đam.

Sau khi ông bà cãi lời Đấng tạo hóa, dòng dõi hai người càng ngày càng đi sâu vào tội lỗi. Kinh thánh mô tả tình trạng loài người…

CHÚA thấy tội ác của loài người trên đất thật lớn lao, mọi khuynh hướng tư tưởng của lòng họ lúc nào cũng xấu xa.        Sáng thế ký 6:5  

Chúa quyết định sẽ quét sạch khỏi mặt đất mọi loài Ngài đã tạo nên, cả loài người lẫn thú vật, loài bò sát và chim trời, vì Ngài hối tiếc đã dựng nên chúng” (Sáng thế 6:7).

Nhưng có một ngoại lệ…

Nhưng Nô-ê được ơn trước mặt CHÚA.        Sáng thế 6:8

Chúa truyền cho Nô-ê đóng một chiếc tàu, mang theo những con thú, từng cặp một.

Nô-ê làm theo mọi điều Đức Chúa Trời đã truyền bảo, ông làm y như vậy.             Sáng thế 6:22

Đến ngày phán xét..

Tất cả các loài có sinh khí trong mũi và sống trên đất đều bị chết.  Sáng thế 7:22

Chỉ có Nô-ê, vợ, ba con trai và ba người dâu sống sót trận Đại hồng thủy vì họ vào trong tàu. Tất cả các loài có sinh khí trong mũi đều chết ngột vì ở ngoài tàu.

Tàu là thành trì kiên cố, nơi trú ẩn an toàn cho ai vững tin nơi Đức Chúa Trời toàn năng.

Are you in? Quí vị muốn vào trong tàu không?

Nhiều ngàn năm sau, Đức Chúa Trời đến gặp Áp-ram ở Cha-ran và đề nghị ông tham dự vào chương trình cứu chuộc của Ngài. Nếu ông đồng ý thì phài “rời bỏ quê hương, dân của ông và nhà cha của ông để đi đến xứ Ngài sẽ chỉ cho (Sáng thế 12:1).

Chúa hỏi Áp-ram, “Are you in?” Kinh thánh nói Áp-ram…

ra đi đúng theo lời CHÚA truyền bảo.                  Sáng thế 12:4  

Bởi vì Áp-ram nhận lời mời của Đức Chúa Trời tham dự kế hoạch cứu chuộc loài người,

Tất cả các dân tộc trên thế giới sẽ nhờ con mà được phước.       Sáng thế 12:3

Lời hứa này đã được ứng nghiệm 2000 sau khi Áp-ram nhận lời mời gọi của Đức Chúa Trời và 2000 năm trước qua Chúa Cứu Thế, hậu tự của Áp-ram.

Sáu trăm sau khi Áp-ram gặp Chúa và nhận lời Ngài hứa và nhận lời mời tham dự vào chương trình cứu chuộc của Ngài, dòng dõi Gia-cốp, cháu nội của Áp-ram nhận được đất Chúa hứa với Áp-ram làm sản nghiệp.

Lúc ấy dân Chúa không có người lãnh đạo. Chúa là Vị Lãnh Đạo tối cao của họ. Dân Chúa làm điều ác và thờ phượng các thần Ba-anh. Cho nên Chúa phó họ vào tay kẻ thù. Khi họ không còn chịu đựng được nữa, họ kêu cầu Chúa. Ngài thương xót và Ngài dấy lên những vị anh hùng để giải cứu họ khỏi tay kẻ thù.  

Trong số những vị anh hùng ấy có một người tên Sam-sôn. Ông này được Chúa biệt riêng từ khi còn ở trong lòng mẹ. Ông được Chúa ban cho một sức mạnh siêu nhiên. Thí dụ, ông có thể dùng tay không xé một con sư tử, hay là dùng một hàm lừa đánh chết 1000 người Phi-li-tin.

Cuối cùng vì không giữ hứa nguyện với Chúa, ông bị kẻ thù bắt giam.

Ý muốn của Đức Cho Trời cho Sam-sôn là một anh hùng chiến thắng. Nhưng ông là kẻ chiến bại vì ông ở ngoài ý Chúa. Dân Chúa chỉ ở trong Đất Hứa được gần 1000 năm thì bị đi đày vì ở ngoài ý Chúa.

Bài học cho con cái Chúa ngày nay là khi chúng ta ở trong chương trình của Ngài thì chúng ta vui hưởng sự sống sung mãn.

Are you in? Ngài muốn hỏi chúng ta.

Chúng ta nhận được những phúc lợi khi chúng ta ở trong Chúa Cứu Thế. Sau đây là một số thí dụ:

n  Trong Chúa Cứu Thế Giê-su chúng ta được xưng công chính mà không phải trả một giá nào.  Rô-ma 3:24      

n  Trong Chúa Cứu Thế chúng ta nhận được sự sống vĩnh phúc. Rô-ma 6:23

n  Trong Chúa Cứu Thế chúng ta không còn bị đoán phạt. Rô-ma 8:1

n  Trong Chúa Cứu Thế Giê-su chúng ta được thánh hóa và cũng được gọi là các thánh.  1 Cô-rinh-tô 1:2

n  Trong Chúa Cứu Thế chúng ta được khôn ngoan. 1 Cô-rinh-tô 4:10

n  Trong Chúa Cứu Thế Giê-su không còn phân biệt giữa người Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà, nhưng tất cả đều là một. Ga-la-ti 3:28

n  Trong Chúa Cứu Thế Đức Chúa Trời ban cho chúng ta đủ mọi phúc lành thiêng liêng trên trời. Ê-phê-sô 1:3

Kinh thánh còn ghi nhiều phước lành khác dành cho những ai ở trong Chúa Cứu Thế.

Chúa muốn hỏi chúng ta, “Are you in?” Ngài muốn mời chúng ta ở trong Ngài để sinh ra lắm trái vì ngoài Ngài chúng ta không làm chi được.

Người Truyền giảng Mạng

Sunday, April 29, 2012


Cơ đốc nhân có thể bị mất sự cứu rỗi không?

Tôi đọc được đề tài này trên trang blog của MS Phạm Hơn. Xin góp ý với các độc giả của trang nhà paulhon.wordpress.
Trước khi trả lời câu hỏi trên, chúng ta nên nhắc lại vụ việc cứu chuộc theo nghĩa đen và nghĩa bóng.
Trong trường hợp tôi cần có 1 triệu VND và tôi có một cái đồng hồ giá 5 triệu. Tôi có thể đem cái đồng hồ đi cầm để có 1 triệu đống. Khi có tiền tôi có thể ra tiệm cầm đồ để chuộc lại cái đồng hồ. Khi bị cầm cái đồng hồ không thuộc về tôi, nhưng người chủ tiệm cầm đồ là chủ của nó. Nó thuộc về tôi trở lại khi tôi chuộc nó về.
Hiểu theo nghĩa đen, khi chúng ta phạm tội chúng ta làm nô lệ cho tội lỗi, tội lỗi cai trị trên xác hay chết của chúng ta, và nó làm chủ chúng ta. Muốn được tự do chúng ta phải trả hết món nợ tâm linh. Món nợ đó là sự hư mất đời đời:
… tiền công của tội lỗi là sự chết. Rô-ma 6:23
Giống như người đầy tớ mắc nợ vua mười ngàn nén bạc—một số tiền khổng lồ--mà người này không thể trả được; chúng ta cũng không ai có thể trả món nợ tội lỗi. Người đầy tớ trong sách Ma-thi-ơ phải cầu xin vua tha nợ cho ông. Vị vua nhân từ tha nợ cho ông. Kinh thánh có chép,
Nhưng Đức Chúa Trời đã tỏ tình yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là tội nhân thì Chúa Cứu Thế đã chết thay cho chúng ta. Rô-ma 5:8
Chúa Giê-Su dùng huyết Ngài làm giá chuộc chúng ta khỏi người chủ tội lỗi. Kinh thánh xác định,
…dưới trời không có Danh nào khác được ban cho loài người để chúng ta phải nhờ Danh ấy mà được cứu. Công vụ 4:12
Đó là giải pháp duy nhất để chuộc con người tội lỗi.
Khi một người bằng lòng để Chúa Cứu Thế chuộc ra khỏi người chủ tội lỗi, người ấy thuộc vế Ngài và Ngài là chủ của người ấy. Người ấy được làm con của Cứu Chúa. Như vậy Chúa Giê-Su chủ động trong công tác cứu chuộc. Sự cứu chuộc không thuộc về chúng ta. Cho nên, câu hỏi không phải là người tin Chúa có thể mất sự cứu chuộc hay không, nhưng câu hỏi đúng là,
Chúa có đòi lại sự cứu chuộc hay không? Ngài có lấy lại ơn cứu chuộc của Ngài không?”
Câu trả lời là “không” vì Ngài đã chịu đóng đinh vì tội lôi của chúng sinh, và ban ơn cứu mọi kẻ tin rồi. Nhưng khi người từng tin danh Ngài không còn tin Ngài nữa, lúc ấy họ quay trở về với người chủ cũ—tội lỗi.

Chúa Giê-Su từng tuyên bố,

“Không phải hễ ai nói với Ta: ‘Lạy Chúa, lạy Chúa’ đều sẽ vào Nước Thiên Đàng đâu, nhưng chỉ những người làm theo ý muốn của Cha Ta ở trên trời.”      Ma-thi-ơ 7:21

Khi chúng ta liên kết câu này với câu Giăng 3:16--"Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, để ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời”chúng ta thấy tin không chỉ là một lời tuyên bố, nhưng là một hứa nguyện làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời.

Cho nên, khi một người cầu nguyện tin nhận Chúa Cứu Thế, lời cầu nguyện mẫu có dạng như sau: “Lạy Chúa Giê-Su, con là tội nhân, xin Chúa tha tội con. Con xin mời Ngài ngự vào lòng và làm chủ cuộc đời con.” Lời cầu xin này chỉ nói lên phần Chúa ban cho chúng ta theo sự nhân từ thương xót của Ngài, và còn thiếu phần chúng ta muốn làm gì cho Chúa. Nhiều người tin Chúa chỉ vì nghe có phân nửa Phúc âm mà thôi, và khi biết thêm phân nửa kia thì thối lui.

Tin cậy và vâng lời là hai hành động đi đôi với nhau. Một “cha căn chú kiết” nào đó gởi email cho chúng ta và yêu cầu chúng ta chuyển khoản cho người ấy một số tiền. Chúng ta có làm không? Chắc là không bởi vì chúng ta không biết người ấy là ai, chúng ta không tin người ấy, cho nên không thể nào đáp ứng yêu cầu của người ấy được.

 Cơ đốc giáo là mối liên hệ giữa Chúa Cứu Thế và người tin. Sự liên hệ này đặt trên cơ sở của niềm tin. Giao ước mới là Cứu Chúa hi sinh chuộc tội cho chúng ta, và người tin Ngài đáp ứng bằng cách giữ lời dạy của Ngài. Chúa Giê-Su có phán,

“Nếu các con yêu mến Ta, thì sẽ vâng giữ các điều răn Ta.” Giăng 14:15        

Một người gọi Ngài bằng Chúa—người chủ của mình—nhưng không nghe lời Ngài, thì người ấy không thực sự tin Ngài, và người ấy cắt đứt liên hệ với Chúa mình.

Tại sao Đức Chúa Trời biết A-đam không nghe lời Ngài, nhưng không xuất hiện khi A-đam và Ê-va trao đổi với con rắn? Đức Chúa Trời không xen vào vì Ngài ban cho họ ý chí, và Ngài cho phép họ lựa chọn: tin Ngài hay tin con rắn.

Con cái Chúa cũng được phép lựa chọn: tin cậy và vâng lời Ngài hay không tin và không vâng lời.

Yêu cầu tin cậy và vâng lời áp dụng cho tuyển dân Chúa trong thời Cựu Ước và con cái Chúa trong thời Tân Ước. Trước khi Giô-Suê qua đời, qua ông Chúa cho dân Ngài lựa chọn…

Nếu chẳng thích cho các ngươi phục sự Đức Giê-hô-va, thì ngày nay hãy chọn ai mà mình muốn phục sự, hoặc các thần mà tổ phụ các ngươi đã hầu việc bên kia sông, hoặc các thần dân A-mô-rít trong xứ mà các ngươi ở…       Giô-Suê 20:15

Dù tuyển dân Chúa được quyền chọn tin Ngài và làm theo ý Ngài hay theo đường riêng của họ, nhưng Chúa dùng luật pháp và các tiên tri để giúp họ biết và chọn tin Ngài. Cuối cùng vì họ chọn không tin Ngài và không vâng lời Ngài nên dân Chúa bị kẻ thù bắt đi đày.

Cơ đốc nhân là một danh xưng và là một lối sống. Một người mang tên Cơ đốc nhân khi đi nhóm ngày Chúa nhật. Người Pháp có câu, “Ái áo không làm nên thầy tu.” Một người đi nhóm thờ phượng, đọc Kinh thánh chưa hẵn là một người tin Chúa chân thật. Ở những nước nơi triết lý của Khổng tử được tôn trọng, người con tốt là người con có hiếu, người con yếu thương và vâng lời cha mẹ mình. Con cái Chúa thật là những người tin cậy và vâng lời Ngài.

Lu-ca kể chuyện một người con trai đòi chia gia tài. Người cha nhân lành cho anh phần gia tài mà anh không có quyền đòi. Anh mang tiền ra nước ngoài, tiêu xài hoang phí. Hết tiền anh phải đi chăn heo. Lu-ca kể,

Nó muốn lấy vỏ đậu của heo ăn mà ăn cho no, nhưng chẳng ai cho.            Lu-ca 15:16      

Lúc ấy anh có hai lựa chọn: một là tiếp tục sống xa nhà cha trong cảnh nghèo đói, cơ cực; hai là trở về nhà, xin cha tha tội và được sống sung mãn. Nếu anh chọn con đường thứ nhất, anh mãi mãi xa cách với ông cha nhân từ. Anh chọn đúng, anh chọn trở về, xin cha tha tội và được sống cùng cha. 

Từ câu chuyện này chúng ta có thể rút ra câu trả lời cho câu hỏi: “Một người mang danh Cơ đốc nhân, nhưng cả đời vi phạm điều răn Chúa, sẽ được lên thiên đàng hay không?”

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần nhớ hai điều:

n  Muốn được nhận vào thiên đàng, một người cần phải công chính. Tính công chính chỉ đạt được qua đức tin nơi Chúa Cứu Thế Giê-Su.

n  Một người dù mang danh hiệu Cơ đốc nhân, nhưng không tin cậy Chúa Giê-Su, thì tự mình chọn không sống đời đời với Đức Chúa Trời. Vâng lời là bằng chứng của lòng tin. Những ai ngụ nơi thiên đàng chắc hẵn là những người đồng ý sống theo qui tắc của Đức Chúa Trời. Một người sống theo đời sẽ không muốn đặt mình dưới sự tể trị của Ngài.

Tóm lại, Cơ đốc nhân chân chính không thể mất sự cứu chuộc vì sự cứu chuộc thuộc Chúa Giê-Su. Tuy nhiên, Cơ đốc nhân được quyền lựa chọn giữa tin cậy và vâng lời Chúa hay không. Nếu tin cậy và vâng lời Ngài thì được xưnng công chính bởi đức tin và được phép váo thiên đàng. Ngược lại, một người tự nhận mình là Cơ đốc nhân nhưng không vâng giữ điều răn và mệnh lệnh của Chúa Cứu Thế thì người này chọn không sống nơi cõi thiên đàng—nơi sống của người công chính, những người chấp nhận quyền tể trị của Chúa.

Người Truyền giảng trên Internet       


Saturday, January 2, 2010

CHÚ TÂM NHÌN VÀO NGƯỜI ĐIỀU KHIỂN

Hãy Chú Tâm Nhìn Người Điều Khiển

“Đức Chúa Jêsus phán rằng: Đồ ăn của ta tức là làm theo ý muốn của Đấng sai ta đến, và làm trọn công việc Ngài.” Giâng 4:34

Một buổi tối, trước khi đi ngủ, tôi có dịp xem một ban nhạc đại hòa tấu trình diển. Những nhạc công ngồi vào ghế, chờ đợi người điều khiển ban nhạc đến. Người điều khiển từ trong đi ra, bước lên bục. Những nhạc công chú ý theo dõi từng cử động của ông.
Sau khi quan sát sự sẵn sàng của ban nhạc, người điều khiển đưa cây đủa của ông lên. Mọi người chuẩn bị nhạc cụ của mình. Sau khi biết chắc ban nhạc đã sẵn sàng, ông mới chuyển động chiếc đủa chỉ huy của mình. Khi cây đủa hạ xuống, nhạc công bắt đầu đàn, khi cây đủa chỉ về hướng nào thì người trong nhóm ấy đàn. Không có người điều khiển, các nhạc công mỗi người đàn một nẻo, không đàn nào hòa hợp với đàn nào.
Muốn cho một bản nhạc được trình diển thành công, những nhạc công phải tuyệt đối theo chỉ đạo của người điều khiển. Chỉ cần một người đàn sai là buổi hòa tấu xem như thất bại. Cho nên trách nhiệm và thẩm quyền của người điều khiển rất quan trọng.
Tôi có hai người con gái. Khi học Tiểu học và Trung học, hai người đàn vĩ cầm. Có một lần tôi thấy nơi ban nhạc có treo một khẩu hiệu: Ba qui luật của ban nhạc là: (1) Người điều khiển bao giờ cũng đúng, (2) Nếu ông sai thì, (3) Xem qui luật thứ nhất. Như vậy muốn đàn trong ban nhạc, nhạc công phải luôn luôn vâng lệnh người điều khiển. Ông có thể sai về nhiều khía cạnh khác trong đời sống, nhưng khi điều khiển, ban nhạc phải hoàn toàn tuân lệnh ông.
Trên phương diện tâm linh, chúng ta cũng có ba điều luật: (1) Chúa Giê-Xu không bao giờ sai, (2) Nếu không tin Ngài luôn luôn đúng thì, (3) Trở về điều luật thứ nhất.
Kinh thánh nói Chúa Giê-Xu “bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội” (Hê-bơ-rơ 4:15), nghĩa là Ngài không bao giờ sai. Ngài không bao giờ sai vì Ngài chẳng tự mình làm việc gì được; chỉ làm điều chi mà Ngài thấy Đức Chúa Trời làm; vì mọi điều Cha làm, Con cũng làm y như vậy (Giâng 5:19). Người nhạc công chăm chú đàn theo sự chỉ đạo của người điều khiển thì đàn đúng nhịp. Chúa Giê Xu biết Đức Chúa Trời không bao giờ sai, cho nên Ngài biết Ngài sẽ không bao giờ sai khi thi hành mệnh lệnh của Đức Chúa Trời.
Chúng ta dám quả quyết rằng con cái Chúa ngày nay đều cho rằng những sứ đồ là những người thành công. Họ thành công vì họ thấy Thầy họ làm việc, và họ làm theo.
Công vụ các sứ đồ 4 kể lại chuyện Phi-e-rơ và Giăng, sau khi chữa lành người què tại cổng Đẹp, rao giảng về sự sống lại của Chúa Giê-Xu. Khi những người bắt Phi-e-rơ và Giăng thấy sự dạn dĩ của hai người, biết rõ rằng ấy là người dốt nát không học, thì đều lấy làm lạ; lại nhận biết hai người từng ở với Đức Chúa Giê-Xu. Hai người từng được Chúa Cứu Thế huấn luyện. Bây giờ họ thực hành điều đã học từ Thầy mình; làm sao họ không dạn dĩ. Họ đã chăm chú nhìn Người Điều Khiển của họ mà đàn theo. Chắc chắn họ thống nhất với Ngài và với nhau.
Đó là bài học cho Hội thánh ngày nay. Sở dỉ những đêm Ca nhạc Giáng sinh 2009 thành công vì các Hội thánh Tin Lành biết hiệp nhất. Bao giờ các Hệ phái còn chọi nhau, dành điểm, dành chiên thì Hội thánh Chúa không thể nào thắng thế gian.
Các Hệ phái phải tập chăm chú nhìn Chúa Giê-Xu để cùng hòa điệu thì bản nhạc Tin Lành mới trổi giọng chinh phục linh hồn và thế gian về cho Chúa.
Kính chúc quí vị một Năm Mới nhiều kết quả hơn năm qua.
HNA